Trang chủ Tin In Ấn Font chữ trên máy tính (Phần 2)

Font chữ trên máy tính (Phần 2)

Font chữ trên máy tính (Phần 2)

3. FONT POSTSCRIPT:

Font Postscript là định dạng font Outline, được phát triển bởi hãng Adobe cho các máy in kỹ thuật số chuyên nghiệp. Font Postscript sử dụng định dạng file postscript để mã hoá thông tin về font. Bằng cách sử dụng ngôn ngữ postscript, hình dáng font Postscript được mô tả bởi các đường cong Bézier bậc 3. Do vậy, một bộ hình dạng đơn có thể thay đổi kích cỡ qua một thuật toán đơn giản. Năm 1990, Adobe công bố phần mềm quản lý font Adobe Type Manager (ATM), cho phép hiển thị font Type 1 trên máy tính Macintosh, một cách sắc nét ở bất kỳ kích cỡ nào.

Adobe phát triển nhiều định dạng font Postscript như: Type 1, Type 2, Type 3, Type 4…, nhưng phổ biến hơn cả là font Type 1 và font Type 3. Adobe sản xuất và phân phối nhiều dạng font Type 1, mặc dù Adobe giữ bản quyền loại font này nhưng họ cũng bán các thuộc tính font này cho các hãng viết font khác. Adobe cũng bán font Type 3 cho các hãng thứ ba nhưng họ không sản xuất và phân phối dạng font này. Phần mềm quản lý font Adobe Type Manager (ATM) và nhiều chương trình ứng dụng khác không hỗ trợ dạng font Type 3.

Font Postscript Type 1 (còn được gọi là font postscript), bao gồm hình dáng ký tự được định nghĩa trong một mã postscript và những “gợi ý” (hints) trong các định nghĩa ký tự của chúng. Các “gợi ý” (hints) sẽ giúp tái tạo các đường viền font (ví dụ khi in) trong khi duy trì hình dáng font tại độ phân giải thấp. Font Type 1 độc lập với thiết bị và có thể được sử dụng trên nhiều thiết bị xuất khác nhau và nó có thể được tái tạo với độ phân giải cao nhất của thiết bị.

Đối với máy PC, một font chữ Type 1 gồm có 2 thành phần: *.PFM và *.PFB. Vì vậy khi sao chép, chúng ta phải sao chép đủ cả 2 thành phần này vì thành phần PFM là font metric dùng để nhận dạng font chữ khi nạp vào máy tính còn thành phần PFB là thành phần thật sự tạo nên font chữ. Nếu chỉ có một thành phần PFM ta có thể nhìn thấy font chữ khi nạp vào ATM (chẳng hạn) nhưng máy sẽ báo không tìm thấy thành phần PFB, kết quả là font chữ không sử dụng được. Còn nếu chỉ sao chép thành phần PFB thì máy sẽ không nhìn thấy được font chữ khi nạp.

Font Postscript Type 3 được phát triển sau font Type 1. Chúng bao gồm hình dáng ký tự được định nghĩa bằng các lệnh postscript tiêu chuẩn gồm các trị số BuildGlyph hoặc BuildChar. Đặc biệt, chúng không có thuộc tính Hinting như font Type 1 (Hinting là một thuộc tính tích hợp bên trong một font để giúp cho máy in biết được việc giữ tỉ lệ giữa các đường in tạo thành một ký tự.).

Ưu điểm của font Type 1:

  • Bao gồm nhiều định nghĩa chính xác hơn font Type 3 nên in được nhiều chi tiết hơn.
  • Có thể được nạp (download) đến bộ nhớ máy in nên in nhanh hơn.
  • Tương thích với trình quản lý font ATM do đó sẽ hiển thị mịn màng hơn ở bất kỳ co chữ nào.
  • Thường yêu cầu ít bộ nhớ và download nhanh hơn font Type 3.

Ưu điểm của font Type 3:

  • Hình dáng ký tự được định nghĩa bằng cách sử dụng các thủ tục postscript thông thường, do đó dễ tạo.
  • Có thể tạo các ký tự hỗ trợ được mô tả bằng cách sử dụng các ký tự tích hợp phức tạp, các đường nét, các nền xám.

3. FONT OPENTYPE:

OpenType là loại font khá mới được đồng phát triển bởi Adobe và Microsoft. Nó được bắt đầu nghiên cứu từ năm 1997 và font đầu tiên đã được công bố vào năm 2000. Font OpenType tương tự như font TrueType nhưng nó có thể chứa dữ liệu hoặc TrueType hoặc Postscript.

Font OpenType có một số ưu điểm như:

  • Hỗ trợ mã Unicode: các bộ font sẽ có nhiều ký tự hơn, có thể lên đến hơn 65.000 ký tự bao gồm cả các ký tự Phương Tây và những ký tự Phương Đông (Nhật Bản, Trung Quốc…)
  • Kiểu dáng đẹp hơn: font OpenType có thể chứa một số lớn kiểu hình dáng ký tự bao gồm gạch nối, phân số, các kiểu chữ cổ… Các ký tự như vậy thông thường sẽ không được mã hoá: chúng hiện diện trong font nhưng người sử dụng sẽ không truy xuất trực tiếp được.
  • Font OpenType hiển thị co chữ nhỏ trông cứng cáp và đẹp hơn.
  • Khoảng cách giữa hai ký tự (kerning) được cải thiện, điều này sẽ giúp giảm kích thước bảng kerning (kerning table) và mở rộng số cặp ký tự được kerning.
  • Font OpenType có thể được nén rất hiệu quả. Kích thước font nhỏ sẽ dễ dàng cho việc nhúng font vào trong file. Điều này rất có ích cho định dạng file PDF và các trang web. Kỹ thuật nén sẽ được sử dụng tuỳ thuộc vào kiểu font OpenType. Định dạng Adobe Compact Font Format (CFF) được sử dụng cho font OpenType Postscript. Còn định dạng Agfa MicroType Express được sử dụng cho font Opentype Truetype. Mặc dù sử dụng thuật toán nén hiệu quả, font OpenType vẫn còn lớn hơn một số font khác do có chứa thêm một số thông tin và các đường nét khác.
  • Giống như font TrueType, font OpenType lưu trữ tất cả dữ liệu về font trong một file đơn.

Cấu trúc dữ liệu font OpenType:

Về mặt kỹ thuật một file OpenType là một liên kết dữ liệu outline và dữ liệu khác được tổ chức trong một nhóm bảng. Những bảng này chứa các thông tin sau:

  • Header bao gồm thông tin chung như là tên file, phiên bản, ngày tạo, hiệu chỉnh và dữ liệu trên hệ thống toạ độ.
  • Các bảng ánh xạ kiểu dáng ký tự (Character to glyph mapping table - CMAP) về mối liên hệ giữa ký tự và kiểu dáng ký tự. Nó hỗ trợ:

          Mã ISO truyền thống.

Mã từ Adobe và Apple.

Mã Unicode.

Cấu trúc dữ liệu font OpenType bao gồm:

  • Bảng tên font dùng định nghĩa tên của font và kiểu font.
  • Bảng chứa dữ liệu đường viền (outline).
  • Các bảng Advance Typographic chứa những dữ liệu cần thiết để hỗ trợ những kiểu dáng (typographic) đặc biệt.
  • Font OpenType cũng có thể chứa những font Bitmap. Thỉnh thoảng chúng được dùng cho những đường nét (glyph) rất phức tạp hoặc cho những co chữ nhỏ. Dữ liệu font Bitmap được chứa trong 3 bảng Bitmap Glyph.
  • Một bảng Digital Signature chứa ký hiệu kỹ thuật số từ người tạo font dùng để kiểm tra khi font được hiệu chỉnh.

Không phải tất cả các bảng trên đều có trong một bộ font OpenType mà tuỳ theo cấu hình của font, người thiết kế font sẽ quyết định số lượng bảng.

VIỆC XUẤT (OUTPUT) FONT OPENTYPE:

Khi font OpenType được công bố, Adobe đã đăng ký bản quyền miễn phí mã tram hoá ATM (ATM rasterizer code) của nó đến Apple và Microsoft. Điều đó có nghĩa là các hệ điều hành của những hãng này sẽ hỗ trợ cho việc xuất (output) các font OpenType.

Cho đến trước phiên bản PDF 1.6 (Acrobat 7), font OpenType không thực sự tồn tại trong file PDF. Khi đó bất kỳ chương trình ứng dụng nào tạo file postscript hoặc file PDF đều chuyển font OpenType sang font Postscript Type 1 hay font TrueType. Điều đó giải thích tại sao không bao giờ chúng ta thấy font OpenType trong các báo cáo kiểm tra (preflight report) của Pitstop hoặc các công cụ kiểm tra khác. Kể từ phiên bản PDF 1.6 font OpenType mới được nhúng trực tiếp vào trong file PDF. Một điều cũng cần lưu ý rằng những font OpenType chứa đường viền (outline) truetype có thể không xuất được trên máy in postscript type 1.

Theo printmediavn.com

Chia sẻ với bạn bè:

Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Thông tin hỗ trợ

Số Điện Thoại:

(08) 62631308

Email: info@cre-i.com.vn

Sale 1:
Sale 2:
Quản trị:
Sale 3: My status

Thống kê

Tổng số thành viên: 50

Khách đang online: 5

Lượt truy cập: 14895