Trang chủ Tin In Ấn Font chữ trên máy tính (Phần 1)

Font chữ trên máy tính (Phần 1)

Font chữ trên máy tính (Phần 1)

Font máy tính là một file dữ liệu điện tử tập hợp hoàn chỉnh các chữ cái, các dấu câu, các con số và các ký tự đặc biệt, theo một kiểu loại, định dạng (thường hoặc đậm), hình dáng (thẳng hoặc nghiêng). Mặc dù font đã phát triển từ rất lâu trước đây, tuy nhiên font máy tính chỉ được xem như bắt đầu từ khi Adobe phát triển ngôn ngữ Postscript, đồng thời kết hợp với Driver LaserWriter của Apple và phần mềm dàn trang PageMaker của Aldus (nay là của Adobe) để hình thành nên một lĩnh vực mới trong chế bản ngành in hiện đại – thiết kế đồ họa trên máy tính.

FONT BITMAP

Sử dụng các điểm (dot) hoặc các pixel để miêu tả hình dạng và kích cỡ (co chữ) của mỗi ký tự. Font Bitmap dùng một ma trận điểm với kích thước xác định (ví dụ 8x16) để miêu tả cụ thể hình dạng của từng ký tự, mỗi ký tự có ma trận điểm riêng. Khi cần hiển thị ký tự nào, máy tính sẽ tra trong file font để lấy được ma trận pixel tương ứng rồi hiển thị ma trận này lên màn hình ở vị trí quy định. Do ma trận điểm đã được thiết kế với kích thước xác định nên nếu hiển thị với co chữ khác (nhỏ hơn hay lớn hơn) thì phải thu nhỏ/phóng to ma trận bitmap. Việc phóng to/thu nhỏ ảnh bitmap với một hệ số nào đó thường cho kết quả bị biến dạng lớn, nhất là khi phóng to, chữ sẽ bị răng cưa chứ không mịn. Từ rất sớm font Bitmap đã được sử dụng trên máy tính, những font Bitmap sớm nhất chỉ sử dụng các co chữ tối ưu hóa như 8, 9, 10, 12, 14, 18, 24, 36, 48, 72 và 96 pt

FONT STROKE

Sử dụng các đường và những thông tin khác để định nghĩa hình dáng và kích cỡ các đường của một ký tự. Các nhà thiết kế font có thể giảm số lượng điểm để tạo ra một dạng font chữ mới với độ dày, độ rộng khác nhau, font chữ có chân hay không có chân. Đối với người tạo ra font chữ, việc chỉnh sửa một ký tự bằng cách chỉnh sửa các điểm của đường thì dễ dàng hơn và ít xảy ra lỗi hơn so với việc chỉnh sửa đường.

FONT OUTLINE

Còn gọi là font vector, sử dụng các đường cong Bézier bao gồm những đường thẳng và đường cong, các hướng dẫn vẽ và các công thức toán để mô tả các hình dạng của ký tự. Font Outline có thể được biến đổi hình dạng một cách dễ dàng bằng cách áp dụng các công thức toán học vào mỗi điểm (point) và thu phóng mà không liên quan gì đến điểm ảnh (pixel). Điều này sẽ giúp cho các ký tự trong font Outline có thể co giãn kích cỡ (co chữ) ở bất kỳ kích thước nào mà không bị hiện tượng răng cưa ở các đường viền chữ như font Bitmap.

1. SƠ LƯỢC VỀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN FONT MÁY TÍNH (COMPUTER FONT)

Khi Adobe công bố ngôn ngữ postscript vào năm 1984, nó hỗ trợ hai kiểu font khác nhau: Postscript Type 1 và Postscript Type 3. Trong đó Type 1 có định dạng phức tạp hơn, nó hỗ trợ kỹ thuật cải tiến chất lượng xuất trên các máy có độ phân giải thấp hoặc cho các co chữ nhỏ.

Adobe cũng đã phát triển một phiên bản của postscript cho máy PC để chúng có thể hiển thị dữ liệu postscript trên màn hình. Kỹ thuật này được gọi là Display Postscript. Adobe đã phát triển Display Postscript cho cả hai hãng Apple và Microsoft, nhưng thực ra cả hai hãng này đã phải miễn cưỡng để cho một hãng khác điều khiển phần quan trọng của hệ điều hành của họ. Họ cũng không vui vẻ gì khi phải trả tiền bản quyền cho Adobe. Vì vậy, lúc đó, Apple và Microsoft đã quyết định liên kết với nhau để giải quyết vấn đề này. Apple sẽ cung cấp một kỹ thuật font, Microsoft sẽ cung cấp một kỹ thuật hiển thị hình ảnh tương tự như postscript.

Các kỹ sư Apple đã sẵn sàng làm việc trên nhiều kỹ thuật font vector trong những năm cuối thập niên 1980. Sampo Kaasila, một kỹ sư hàng đầu của Apple, đã phát triển một kỹ thuật rất triển vọng và đặt tên là Bass. Đó là tên đầu tiên, sau đó đổi tên là Royal và cuối cùng là TrueType trước khi nó được chuyển sang cho Microsoft vào năm 1991.

Phần điều khiển máy in của Microsoft khi đó được đặt tên là TrueImage. Nói chung nó không được hoàn hảo. Nếu Apple và Microsoft không cần nó, nó đã không bao giờ xuất hiện trong các sản phẩm của họ. RIP TrueImage đã được sử dụng trong phần mềm TrapWise của hãng Aldus, và khi Adobe mua Aldus, Adobe đã ngưng việc bán sản phẩm này.

Vào đầu năm 1992, Apple đã sử dụng font TrueType như một phần không thể thiếu trong hệ điều hành System 7 của họ, Microsoft thì sử dụng trong Windows 3.1. Adobe đã phản ứng lại sự đe doạ của font TrueType bằng việc tung ra một công cụ quản lý font gọi là Adobe Type Manager (ATM) dùng cải thiện việc hiển thị font Postscript Type 1 trên màn hình. Nó cũng giúp cải thiện chất lượng xuất của loại font này trên các máy in non-postscript. Cùng lúc đó Adobe cũng công bố các đặc tính của định dạng font Postscript Type 1. Nhiều nhà viết font trên máy tính khi đó đã miễn cưỡng chấp nhận các phiên bản TrueType trong các bộ font của họ thay vì định dạng Type 1.

QuickDraw GX thất bại

Khi Microsoft dần dần cải tiến việc hỗ trợ font TrueType trong các phiên bản tiếp theo của Windows, Apple đã có nhiều tham vọng hơn. Họ thông báo kế hoạch tái cấu trúc một phần chính trong hệ điều hành của họ và cải tiến cách tương tác giữa các đối tượng đồ hoạ và chữ. Kỹ thuật mới này được gọi là QuickDraw GX và các font sử dụng trong tất cả các cấu hình nâng cao của họ được gọi là Font GX.

Các nhà viết chương trình ứng dụng đã mất rất nhiều thời gian cho việc phát triển các loại font cho một kỹ thuật chưa được chứng minh chỉ chạy trên máy MAC và gần như không có font GX tương thích nào xuất hiện trên thị trường. Cuối cùng Apple đã buộc phải ngưng phát triển QuickDraw GX và nhiều dự án tham vọng khác như OpenDoc chẳng hạn.

Font Multiple Master

Vào năm 1991, Adobe công bố một định dạng font mới được gọi là Multiple Master. Multiple Master là một dạng font mà các nhà thiết kế có thể tự thay đổi được, chẳng hạn như có thể thay đổi bề rộng của ký tự mà không ảnh hưởng gì đến chất lượng chữ.

Một liên minh mới, một kỷ nguyên mới

Vào năm 1996, Adobe và Microsoft bất ngờ thông báo họ liên kết với nhau để phát triển một định dạng font mới, chúng sẽ là sự kết hợp kỹ thuật của hai loại font Postscript và font TrueType. Kỹ thuật mới này được đặt tên là OpenType và dường như nó đã kết thúc cuộc chiến tranh về font và vô số các tiêu chuẩn tồn tại trên thị trường lúc bấy giờ.

OpenType là một loại font lai, nó có thể chứa dữ liệu của font Postscript và font TrueType. Điều này đã giúp cho Adobe chuyển đổi dễ dàng các thư viện font đang tồn tại và có vị trí chắc chắn trong thị trường font Windows. Microsoft bổ sung thêm OpenType hỗ trợ cho Windows 2000 và hy vọng mở rộng được thị phần trong thị trường xuất bản mà trước đây là thị trường truyền thống của Macintosh. Người sử dụng cũng có tiện ích từ OpenType như việc hỗ trợ cho các ký tự nâng cao như font Unicode chẳng hạn.

Font OpenType đầu tiên xuất hiện vào năm 2000. Adobe đã hiệu chỉnh trình quản lý font Adobe Type Manager (ATM) để Windows 2000 hỗ trợ cho font OpenType. Trong lúc đó, tất cả các hệ điều hành chính trên thị trường cũng đều đã hỗ trợ cho font OpenType.

2. FONT TRUETYPE:

Về cấu trúc, các đường viền của các ký tự trong font TrueType được thiết lập bằng các đoạn thẳng và các đường cong Bézier bậc 2. Các thuật toán để tính toán các đường cong này nhanh hơn việc tính toán các đường cong Bézier bậc 3. Điều này cũng gây khó khăn cho việc chuyển đổi từ font Truetype sang font Postscript vì font Postscript được thiết kế bằng các đường cong Bézier bậc 3.

Một font TrueType được tạo bởi các bảng xác định trong phần Header. Tên của mỗi bảng có thể có lên đến 4 ký tự. File của một bộ font TrueType thường bắt đầu bằng bảng ttcf cho phép truy xuất font trong bộ font bằng cách chỉ ra các header riêng biệt cho các font thành phần. Các font trong cùng một bộ font sẽ chia nhau cùng một bảng hình dáng (glyph-outline table) mặc dù mỗi font có thể liên hệ đến các tập hợp con trong các hình dạng riêng của nó qua các bảng cmap, name và loca.

Một file font TrueType sẽ có định dạng file .ttf (truetype font), nhưng một file của một bộ font truetype lại có định dạng là .ttc (truetype collection). Định dạng suitcase là cho font TrueType sử dụng trên máy Macintosh.

Font TrueType không đòi hỏi phải có một trình tiện ích bổ sung hoặc một chương trình điều khiển bằng vi xử lý đắt tiền. Các font chữ TrueType mà chúng ta nhìn thấy trên màn hình sẽ hoàn toàn giống như khi chúng ta in tài liệu đó ra. Hơn nữa các font TrueType đều có thể thay đổi ti lệ, có nghĩa là không có vấn đề gì khi chọn cỡ font (co chữ), chúng ta sẽ nhìn thấy chính xác co chữ đã chọn trên màn hình. Với Font TrueType, chúng ta có thể in các tài liệu của mình trên các hệ máy tính khác hoặc máy in khác mà không phải định khuôn thức lại cho các font đó.

Theo printmediavn.com

Chia sẻ với bạn bè:

Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Thông tin hỗ trợ

Số Điện Thoại:

(08) 62631308

Email: info@cre-i.com.vn

Sale 1:
Sale 2:
Quản trị:
Sale 3: My status

Thống kê

Tổng số thành viên: 50

Khách đang online: 4

Lượt truy cập: 14895