Trang chủ Tin In Ấn Công nghệ in Kỹ thuật số trên vải - CN in phun của một số hãng và các tiêu chí sản xuất (Phần 12)

Công nghệ in Kỹ thuật số trên vải - CN in phun của một số hãng và các tiêu chí sản xuất (Phần 12)

Công nghệ in Kỹ thuật số trên vải - CN in phun của một số hãng và các tiêu chí sản xuất (Phần 12)
E. Đề xuất các tiêu chí trong quá trình sản xuất

Tuy lĩnh vực in kỹ thuật số trên vải sợi ở nước ta chưa phổ biến, chủ yếu là in trên các loại vật liệu sợi dạng đơn giản như silk, hiflex… nhưng sau khi tìm hiểu về tình hình của ngành, nguyên vật liệu cũng như công nghệ in trong lĩnh vực in kỹ thuật số khổ lớn trên vải sợi, nhóm xin được đưa ra một số ý kiến riêng về các tiêu chí cần thiết khi tiến hành sản xuất in trên vật liệu dạng sợi

1. Các yêu cầu đối với sản phẩm in

a. Yêu cầu về sản phẩm in phải bền màu:


Những sản phẩm yêu cầu phải đạt được tính bền màu thường được sử dụng ngoài trời trong một thời gian dài (như biển hiệu, hộp đèn quảng cáo, cờ…). Các sản phẩm này thường được sử dụng trong nhiều năm vì không có nhu cầu phải thay đổi về mẫu mã. Yêu cầu chính của loại sản phẩm này là bền màu, chịu được các tác động của môi trường như mưa, nắng,…sao cho sản phẩm giữ được màu sắc lâu dài nhất. Thông thường các sản phẩm này được sử dụng ngoài trời nên vật liệu chủ yếu được chọn là bạt Hiflex, vải silk, phi bóng ngoài trời… đã có độ bền tương đối cao với môi trường. Vấn đề cần phải quan tâm là sử dụng loại mực in thích hợp để đạt độ bền màu cao. Như ta đã biết, màu sắc của mực chủ yếu nhờ thành phần màu trong mực. Cấu tạo của thành phần màu này chủ yếu là 2 dạng: dạng chất màu phân tán (dye) và bột màu khuếch tán (pigment). Dạng dye tuy cho màu sắc đẹp hơn nhưng lại không chịu được tác động của môi trường, trong khi đó dạng pigment tạo nên màu sắc ít tươi tắn hơn nhưng giữ được độ bền màu cao. Đối với sản phẩm cần độ bền màu cao, ta nên sử dụng loại mực có thành phần tạo màu dạng pigment để đạt giá trị sử dụng cao hơn, tuy màu sắc không đẹp bằng, bề mặt vật liệu có vẻ thô hơn.

b. Yêu cầu “đúng màu”:

Những đơn đặt hàng đặt nặng vấn đề đúng màu thường là những đơn đặt hàng những sản phẩm trong cùng một chiến dịch quảng cáo, phục vụ cho một đợt giới thiệu sản phẩm mới hay một dịp thay đổi mẫu mã sản phẩm của doanh nghiệp. Do tính đồng loạt của sản phẩm nên vấn đề màu sắc cần được lưu tâm nhiều nhất. Đặc biệt là sản phẩm quảng cáo trong nhà thì yêu cầu về việc đúng màu phải càng cao. Trong cùng một dãy sản phẩm trưng bày tại siêu thị, người ta dễ dàng nhận ra sự khác biệt về màu sắc giữa hai sản phẩm nằm kế cận nhau. Pano quảng cáo trong nhà và những áp phích, standing phải đạt được sự đồng bộ về màu sắc với nhãn hàng của sản phẩm đang được trưng bày tại đó. Khoảng sai biệt màu phải nằm trong ngưỡng mà mắt người không phân biệt được. Vấn đề ở đây là phải đạt được đúng màu sắc yêu cầu nhưng lại in bằng những phương pháp khác nhau (các nhãn hàng thường được in bằng phương pháp in offset, trong khi đó áp phích, pano quảng cáo thường được in phun…) Sự sai lệch màu giữa những phương pháp in có thể là đáng kể. Do đó việc test màu, in thử là công đoạn phải thực hiện tỉ mỉ, cẩn thận.

Ngoài ra còn phải xét đến những yếu tố có thể tác động đến cảm nhận màu sắc của người quan sát như ánh sáng tại nơi trưng bày (ánh sáng đèn màu gì, ngả vàng hay ngả xanh…), số lượng sản phẩm trưng bày và những yếu tố tâm lí… Những yếu tố này thường làm thay đổi sự nhạy cảm của mắt người đối với màu sắc. Một người có thị lực tốt có thể phân biệt khoảng 10.000.000 màu khác nhau khi so sánh các màu nằm cạnh nhau. Sự khác biệt nhỏ nhất của hai màu kế nhau được gọi là một độ khác biệt gây chú ý (JND) khi việc giám định một màu in được thực hiện thì những tác nhân xung quanh có vai trò chi phối rất lớn đến cảm nhận màu. Màu in sẽ cách màu mà người quan sát nghĩ là họ đã nhìn thấy khoảng 23 đơn vị khác biệt JND, trong khi nếu so sánh giữa những sản phẩm in cùng loại thì sự khác biệt có thể là 10JND, nếu sử dụng máy đo mật độ thì con số này được giảm xuống còn từ 1-2JND. (1JND = 0,01D tại các mức mật độ trên 1,40).

Đó là lí do tại sao pano quảng cáo ngoài trời không cần độ chính xác cao về màu như pano quảng cáo trong nhà. Khi người quan sát nhìn thấy mẫu quảng cáo ngoài trời, họ không có sự so sánh về màu sắc do nó đứng riêng biệt và vì thế khoảng sai biệt màu giữa màu mà mắt người nhìn thấy với màu mà họ liên tưởng đến mà không đáng kể. Đây là việc giám định một màu in tạo thành từ trí nhớ của màu đó (thường là những màu đặc trưng của nhãn hiệu đã được hình thành từ trước đó khá lâu, như màu đỏ của CocaCola, màu xanh da trời của Pepsi…) Tuy nhiên khi được đặt cạnh các sản phẩm cùng loại được trưng bày trong siêu thị thì lập tức có một sự so sánh giữa màu sắc của tấm pano và màu sắc của nhãn hàng trên sản phẩm. Khoảng sai biệt bị thu hẹp lại. Người quan sát dễ nhận thấy sự sai lệch về màu sắc hơn nhiều lần so với khi nhìn pano quảng cáo ngoài trời. Điều này tác động đến tâm lí của người tiêu dùng. Nếu khách hàng trông thấy sự biến thiên màu sản phẩm trong vòng một dãy mà lẽ ra màu sắc phải giống nhau, họ có thể cho rằng công ty không chú ý nhiều đến chất lượng sản phẩm của nó. Người tiêu dùng có thể quyết định ngưng mua nhãn hiệu đó và chuyển sang sản phẩm của đối thủ cạnh tranh.

Vì vậy hiện nay nhu cầu về in đúng màu là rất lớn và rất quan trọng trong in quảng cáo. Để in được đúng màu thật sự đòi hỏi quy trình in phải được kiểm tra hoàn chỉnh, đồng bộ từ thiết bị nhập dữ liệu (máy scan, máy chụp ảnh, màn hình máy tính,…) đến thiết bị xuất (máy in) và cả những công đoạn sau đó. Đồng thời còn phải quan tâm đến vấn đề về vật liệu và thời gian sử dụng vì những yếu tố này cũng ảnh hưởng khá lớn đến màu sắc của sản phẩm in.

2. Các yếu tố đề xuất:

Dựa vào những nhu cầu thực tế này chúng tôi xin đề xuất những giải pháp cho từng công đoạn, phù hợp với thực tế sản xuất và nhu cầu của khách hàng. (sơ đồ lựa chọn công nghệ in phù hợp với yêu cầu của khách hàng) (file đính kèm).

a. Chọn máy in:

Do máy in là một yếu tố cố định trong quá trình thực hiện nên việc lựa chọn máy in là khâu đầu tiên cần quan tâm của đơn vị sản xuất. Việc lựa chọn máy in phải dựa trên nhiều yếu tố, mà trong đó phải kể đến giá thành máy, chất lượng in của máy và nhu cầu của thị trường. Cùng một kích thước sản phẩm nhưng in trên máy in có khổ in lớn hơn thì giá thành sẽ đội lên cao hơn rất nhiều.

Theo khảo sát nhu cầu của thị trường, hiện nay 80% ấn phẩm quảng cáo trên vải sợi có kích thước từ 1,6-2.5m trở xuống (tính theo khổ ngang của cuộn). Nhu cầu in các sản phẩm có kích thước cả hai chiều (ngang và dọc) lớn hơn kích thước trên là rất hiếm, một phần là vì công nghệ in trên loại vật liệu này cho giá thành khá cao so với mặt bằng chung cùng vời các loại vật liệu khác. Do đó để nhanh chóng khấu hao máy móc và hạ giá thành sản phẩm, thường các cơ sở in chọn máy in phun có khổ in tối đa từ 1.6 -2.5 m (máy dành cho ngoài trời có thể chọn máy có khổ in tối đa 2.5 – 3.2 m). Cũng cần quan tâm đến các giải pháp khi in (chia nhỏ hình cần in, xoay hướng, xếp đặt các hình cần in để dễ in và tận dụng tối đa khổ in…) để đạt hiệu quả cao nhất và giá thành thấp nhất cho sản phẩm in.

b. Chọn Vật liệu:

Như đã trình bày trong chương trước, vật liệu có một sự tác động không nhỏ đến sản phẩm in ấn. Những tác động này có thể là theo mong muốn (do mục đích sử dụng vật liệu: cần độ bóng, mịn, hoặc mờ đục, xuyên sáng, không xuyên sáng,…) hay không theo mong muốn (tương tác giữa mực và vật liệu, độ biến dạng vật liệu,…). Có những loại vật liệu phải trải qua quá trình in thử rất nhiều lần mới đạt được kết quả in tốt. Đặc tính của từng loại vật liệu quyết định nó ảnh hưởng nhiều hoặc ít đến quá trình in và kết quả in.

Hiện nay trên thị trường vật liệu vải sợi cho in kỹ thuật số ở nước ta cũng khá hạn hẹp, chủ yếu sử dụng phổ biến nhất là hiflex và silk, thỉnh thoãng có một số ít cơ sở có thể in trên phi bóng. Tuy nhiên xét trên tổng thể các loại vật liệu vải sợi dành cho in kỹ thuật số hiện cũng rất đa dạng. Sự đa dạng của vật liệu có thể gây khó khăn cho in ấn vì cần phải qua một quá trình in thử trên vật liệu rất nhiều lần mới có thể xác định được vật liệu đó thích hợp với điều kiện in ấn nào (thích hợp in với mực nào, độ phân giải bao nhiêu, có cần thiết phải gia giảm các thành phần màu không,…).

Thiết nghĩ các đơn vị sản xuất in nên tạo profile cho đơn đặt hàng, trong đó có những thông tin về vật liệu và những ghi chú về những điều cần lưu ý khi in trên vật liệu đó. Tuy nhiên việc tạo profile này chỉ đảm bảo được sự đồng nhất cho những sản phẩm trong cùng một đơn đặt hàng, phạm vi sử dụng các thông tin này chỉ gói gọn trong một đơn đặt hàng riêng lẻ. Chưa nói đến nếu khách hàng đặt hàng tiếp tục nhưng yêu cầu sử dụng một loại vật liệu khác thì các thông tin trên cũng không thể giúp ích được gì cho in ấn. Việc phải thử lại từ đầu là không thể tránh khỏi. Với hàng trăm loại vật liệu như hiện nay, việc phải thử đi thử lại như vậy sẽ làm hao tốn thời gian và chi phí rất lớn.

Theo ý kiến của nhóm, nên thực hiện một thư viện thông tin về vật liệu. Việc thực hiện này có thể được thực hiện ngay tại đơn vị sản xuất in hay tại đơn vị sản xuất vật liệu. Thư viện này sẽ cho biết đựơc đặc tính của vật liệu, đặc tính in và những thông tin cần thiết cho in ấn như độ giãn, độ biến dạng vật liệu, khả năng nhận mực của vật liệu, ảnh hưởng của từng loại mực in đến vật liệu,… nếu thực hiện được một thư viện như vậy thì khi sử dụng một loại vật liệu mới sẽ không mất nhiều thời gian để in thử nữa mà chỉ cần tham khảo thông tin về vật liệu đó để có những sự điều chỉnh cho thích hợp. Số lần in thử cho các đơn đặt hàng cũng sẽ giảm bớt đáng kể.

c. Mực in:

Hiện nay hầu hết các đơn vị sản xuất in nói chung đều không sử dụng loại mực in theo nhà sản xuất khuyến cáo mà thay vào đó là sử dụng các loại mực kém chất lượng, mực không rõ nguồn gốc hoặc mực được pha chế theo kinh nghiệm sản xuất… do đó chất lượng in ấn không đảm bảo. Những khó khăn có thể nhận thấy được là:

• Quá trình in thử phải thực hiện rất nhiều lần, mất rất nhiều thời gian nhưng vẫn không thể loại bỏ được yếu tố sai lệch màu do mực sử dụng không đảm bảo được sự ổn định về chất lượng. Hầu như tất các các nhà in đều gặp phải tình trạng này.

• Nếu sử dụng các loại mực không đạt chất lượng, cho dù thiết bị in ấn và điều kiện in ấn có tối ưu thế nào đi chăng nữa hiệu quả đạt được vẫn rất thấp. Nếu màu sắc được đảm bảo đồng nhất qua hệ thống quản lý màu (sẽ được nói đến ở phần sau) thì đến công đoạn in ấn vẫn không giữ được độ đồng nhất đó vì yếu tố mực in.

• Tuổi thọ của máy in sẽ bị giảm đáng kể khi sử dụng các loại mực kém chất lượng này. Điều này không những ảnh hưởng đến vấn đề in ấn không thôi mà còn ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế lâu dài của doanh nghiệp.

Vì thế, theo ý kiến của nhóm, việc sử dụng mực chính hãng hoặc mực do các nhà sản xuất uy tín là điều cần thực hiện trước tiên để đảm bảo được chất lượng in ấn. Đa số các hãng sản xuất máy in đều có cung cấp những loại mực kèm theo cho dòng máy đó, đây là những loại mực đã được nghiên cứu và pha chế thích hợp nhất cho điều kiện in và thiết bị máy in. Đơn vị sản xuất in nên dùng những loại mực đảm bảo được chất lượng này. Dù biết rằng khi sử dụng loại mực do nhà sản xuất yêu cầu sẽ có giá thành cao hơn khi dùng mực tự pha chế hoặc các loại mực khác nhưng sẽ đảm bảo được độ ổn định của màu sắc mà còn giúp cho quá trình quản lý màu được xuyên suốt từ đầu đến cuối tất cả các công đoạn. Giá thành của mực in là vấn đề mà các cơ sở in e ngại nhất (thường cao hơn đến vài chục lần so với mực Trung Quốc, Hàn Quốc, mực không rõ tên,…), ảnh hưởng đến giá thành của sản phẩm in. Tuy nhiên về lâu về dài, chất lượng và sự chuyên nghiệp trong in ấn là một yếu tố cạnh tranh có tính quyết định, đảm bảo sự thành công cho doanh nghiệp.

Ngoài ra một yếu tố có thể giúp cải thiện và gia tăng chất lượng in ấn là mở rộng khoảng phục chế màu. Khoảng phục chế màu càng lớn thì hình ảnh càng trung thực. để mở rộng khoảng phục chế màu người ta thường sử dụng các phương pháp như tăng độ dày lớp mực (tăng số lượng hạt mực, tăng thể tích của hạt mực…), tăng số lượng đơn vị cấp mực (đầu phun), chú trọng đến thành phần tạo màu của mực (dạng dye, dạng pigment,…). Tuy nhiên việc tăng độ dày lớp mực dễ dẫn đến các hiện tượng lem mực, khó khô và gây biến dạng vật liệu, nhất là các sản phẩm in trong nhà, in bằng các loại mực gốc nước, gốc dung môi. Do đó việc gia tăng độ dày lớp mực chỉ có thể thực hiện được trong một phạm vi hạn chế.

Vì vậy để gia tăng khoảng phục chế màu, chúng tôi nhận thấy biện pháp thích hợp nhất là tăng số đơn vị cấp mực và tăng các màu mực bổ sung cho các thành phần màu cơ bản như CMYK (giống như thêm đơn vị màu pha trong in offset, in ống đồng…). Hiện nay các máy in phun đều cung cấp thêm từ 2-4 đơn vị cấp mực (light magenta, light cyan, light yellow, light back…) để có thể gia tăng khoảng gamut màu có thể phục chế được. Đối với các sản phẩm yêu cầu cao về độ trung thực của màu sắc và cần phục chế những màu rộng hơn phạm vi phục chế được của 4 màu CMYK thì cần sử dụng thêm các đơn vị cấp mực này.

d. Quản lý thiết bị và quản lý màu:

Hiện nay theo khảo sát của nhóm các cơ sở đã lưu ý đến việc quản lý và bảo trì thiết bị nên tiến trình công việc thực hiện trôi chảy, ít bị sự cố. Đặc biệt là việc sử dụng hệ thống mạng nội bộ đã làm cho thông tin được truyền đi nhanh hơn, việc quản lý và điều khiển hệ thống dễ dàng hơn trước rất nhiều.

Tuy nhiên việc quản lý màu thì lại chưa được các cơ sở in lưu ý, việc cân chỉnh thiết bị cũng không được thực hiện thường xuyên, do đó sự sai lệch về màu sắc hầu như luôn xảy ra. Lý do của thực trạng này là bởi người quản lý hệ thống vẫn chưa thể hiểu hết tầm quan trọng của việc quản lý màu sắc, chưa có những hiểu biết cơ bản về quản lý màu, tạo và sử dụng các ICC profile để quản lý màu sắc. Hơn nữa những hạn chế về mực in cũng không cho phép việc quản lý màu được thực hiện xuyên suốt các công đoạn.

Theo ý kiến của nhóm, nếu các hạn chế về mực in được giải quyết, các cơ sở in nên đầu tư vào việc quản lý màu, thực hiện chuẩn hóa các thiết bị để thực hiện việc in ấn đạt hiệu quả cao hơn. Lĩnh vực in kỹ thuật số khổ lớn trên vật liệu dạng sợi nói chung khá mới mẽ với thị trường nước ta hiện nay do đó yêu cầu quản lý màu đồng bộ trên thiết bị cũng không phải là chuyện sớm chiều. Các đơn vị sản xuất in cần phải lưu ý vần đền này nhằm nâng cao khả năng sản xuất cũng như uy tín của đơn vị.

F. Kết luận

In kỹ thuật số khổ lớn hiện nay đang ngày càng phát huy cao độ thế mạnh thực sự mà nó đang có. Không chỉ trong lĩnh vực in quảng cáo mà trong lĩnh vực in ứng dụng cũng đang ngày càng lớn mạnh, sản phẩm in bắt đầu đi vào đời sống hàng ngày và trở thành một trong những nhu cầu về thẫm mỹ không thể thiếu cho cuộc sống hiện đại và tiện nghi. Có thể nói in kỹ thuật số khổ lớn nói chung và in trên vải nói riêng ngày càng khẳng định vị trí về hiệu quả, kinh tế, thẩm mỹ trên thị trường.
Hiện nay thị trường in kỹ thuật số trên vải sợi ở nước ta hiện chưa phát triển nhiều, chủ yếu là in quảng cáo trên hflex, bạt, silk, decal… các sản phẩm in trên vải mà chúng ta bắt gặp hàng ngày chủ yếu được in ở nước ngoài (Trung Quốc, Thái Lan…) hoặc được in bằng công nghệ in vải truyền thống. Tuy nhiên, hiện nay đã có một số nhà in của nước ta có xu hướng tìm tòi và muốn đầu tư, đây là một tín hiệu tốt cho ngành sản xuất in kỹ thuật số của nước ta.

Trong quá trình tìm hiểu nhóm đã cố gắng tìm hiểu các tài liệu cũng như thông tin từ internet nhằm có thể đạt được hiệu quả cao nhất, tuy nhiên vì đây là một lĩnh vực tương đối khá mới mẽ trong thời gian gần đây nên tài liệu tìm được cũng chưa đi sâu nhiều vào vấn đề, do đó nhóm chủ trương tìm hiểu theo chiều rộng nhằm mang đến những hiểu biết mới nhất về lĩnh vực này. Bên cạnh đó nhóm cũng cố gắng liên hệ thực tế với điều kiện sản xuất in kỹ thuật số tại địa bàn Tp. Hồ Chí Minh nhằm hiểu rỏ vấn đề hơn.
Theo kythuatin.com

Chia sẻ với bạn bè:

Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Thông tin hỗ trợ

Số Điện Thoại:

(08) 62631308

Email: info@cre-i.com.vn

Sale 1:
Sale 2:
Quản trị:
Sale 3: My status

Thống kê

Tổng số thành viên: 50

Khách đang online: 3

Lượt truy cập: 14895