Từ xưa, Hà Nội đã có biết bao nhiêu làng nghề
nổi tiếng, đi vào ca dao tục ngữ làm nên nét đẹp biểu tượng cho vẻ đẹp
thanh lịch của thủ đô. Có những làng nghề đến nay vẫn còn tồn tại song
cũng có làng nghề chỉ còn đọng lại trong nỗi nhớ, tâm cảm mỗi người dân,
mà một ví dụ là làng giấy dó Yên Thái vùng Kẻ Bưởi.Ca dao có câu:
Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Trấn Vũ canh gà Thọ Xương
Mịt mù khói tỏa ngàn sương
Nhịp chày Yên Thái mặt gương Tây Hồ.
Trong bài phú Phong cảnh Tây Hồ của Nguyễn Huy Lượng thời Tây Sơn cũng ghi:
Chày Yên Thái nện trong sương chểnh choảng
Lưới Nghi Tàm ngăn ngọn nước quanh co.
Làng Yên Thái còn gọi là làng Bưởi nằm ở phía tây bắc Hà Nội thuộc tổng
Bưởi, nay thuộc phường Bưởi, quận Tây Hồ của Hà Nội. Sử chép: Năm Thiên
Phù Khánh Thọ 1127, đời vua Lý Nhân Tông, phía tây bắc thành Thăng Long
hợp lưu của hai dòng sông Thiên Phù và Tô Lịch, nước dâng cao ngày đêm
phá mòn chân đê, quan quân chế ngự không nổi, tình hình vô cùng nguy
khốn vì nước có thể ngập đổ thành, một đêm thần linh hiện về báo mộng
cho đức vua và bảo rằng, muốn trấn yên dòng nước dữ, vào sớm mai phải
tìm người hiền vì nghĩa tự nguyện quên sinh xuống dòng nước, lập tức
nước sẽ rút ngay. Đức vua liền cho quan khâm sai đợi sẵn tại cửa thành.
Mờ sáng hôm sau - ngày 30 tháng 11 khi sương mù còn dày đặc thì từ xa đã
thấy ánh đèn dầu leo lét của cặp vợ chồng người bán dầu già là ông Vũ
Phục và bà Đỗ Thi. Hai người lấy nhau đã lâu mà chưa có con, ăn ở hiền
lành, ai cũng yêu mến, và đúng như lời báo mộng là người đến sớm nhất đi
qua bến Hồng Tân vào kinh thành, liền cho lính níu lại tỏ rõ sự tình.
Nghe xong hai người không hề lo sợ, hiểu rõ việc nghĩa liền bái trời đất
và trẫm mình xuống sông, nước bỗng ngừng chảy, từ giữa dòng hiện lên
một gò cát cứ cao dần rồi lấp cửa sông Thiên Phù. Dần dần không còn sông
Thiên Phù nữa. Những quả bưởi Đoan Hùng Phú Thọ ngày nay bị trôi theo
dòng sông Lô, sông Thao và sông Thiên Phù neo vào bãi đất mọc thành
rừng, thấy chuyện lạ người dân đã gọi đó là bến Bưởi. Bãi nổi do ít
người nên ban đầu được triều đình nhà Lý dùng làm bãi pháp trường chuyên
chặt đầu những kẻ có tội vùi xác ở đây, nên gọi nó là Đống Ma phường
sau đổi thành Tịch Ma phường. Người ta đồn rằng, cứ đến phiên chợ Bưởi
cuối năm là những hồn ma lại từ âm phủ hiện về trà trộn với người trần
sắm hàng Tết do đó cũng gọi phiên chợ này là phiên chợ Ma phường. Đức
vua cảm đức công ơn sâu dày của hai vợ chồng già đã phong cho hai vị là
phúc thần, lập đền thờ ghi công là miếu Chiêu ứng vương ở ngã ba chợ
Bưởi ngày nay, và sai bốn người lính họ Đặng, Hoàng, Nguyễn và Cao ngày
đêm túc trực hương hỏa tại đền thờ hai vị. Từ bốn người này con cháu đầy
đàn lập thành làng thành xóm an cư lạc nghiệp và đổi cái tên xưa thành
Yên Thái hay An Thái nghĩa là hòa bình, yên ổn và giàu có. Đời Minh
Mạng, triều đình đã cho gọi chính thức nơi đây là Yên Thái và phong cho
người dân bốn chữ Mỹ tục khả phong ngụ ý khen ngườĩ xưa đã tự lập làng
sinh sống thái bình.
Nhờ sông nước bốn mùa phong thịnh, làng xóm sầm uất, tại Yên Thái đã nảy
sinh nhiều làng nghề mà nổi bật là nghề làm giấy ngay từ thời Lý -
Trần. Vua Lý Thái Tổ đã soạn chiều dời đô trên giấy Yên Thái. Thời vua
Lý Cao Tông (1176 - 1210) giấy Yên Thái đã từng cống cho triều đình nhà
Tống. Giấy Yên Thái được biết tới nhiều nhất từ thế kỷ 15. Sách Dư địa
chí của Nguyễn Trãi năm 1435 ghi phường Yên Thái ở Thăng Long gồm các
làng Hồ Khẩu, Đông Xã, An Thọ, Yên Thái và Nghĩa Đô làm nhiều loại giấy
mỏng, dai, trắng mịn nổi tiếng khắp Kinh kỳ, như giấy sắc để nhà vua
viết lời sắc phong; giấy lệnh để viết chiếu chỉ, thần phả; giấy lĩnh để
chép gia phả dòng họ và đóng sách quý; giấy bản là giấy thường trong dân
gian…
Theo kythuatin.com
Chia sẻ với bạn bè:
Tin mới hơn:
Tin cũ hơn: