Ngành công nghiệp in nước ta những năm gần đây có bước phát triển mạnh
mẽ, đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân. Song
nhìn lại thực tế, nhân lực ngành in đang đứng trước thực trạng thiếu về
lượng, yếu về chất. Vấn đề này một lần nữa được cảnh báo tại Hội thảo “
Nguồn nhân lực cho ngành in- Thực trạng và giải pháp” do Hiệp hội in
phối hợp với Khoa In và Truyền thông trường ĐH Sư phạm kỹ thuật thành
phố HCM tổ chức vừa qua.
Nhìn lại thực trạng nguồn nhân lực ngành in VN
Theo thống kê chưa đầy đủ của Hiệp hội in VN, hiện nay có 1.200 doanh
nghiệp in ( tăng bình quân từ 10 đến 15% mỗi năm). Trong đó, nhân lực
ngành in có khoảng 40.000 người và chỉ có 80% số đó là công nhân lao
động trực tiếp, còn lại làm công tác quản lý và lao động gián tiếp, mỗi
năm số người đến tuổi về hưu chiếm 5%. Như vậy, hàng năm ngành in cần bổ
sung ít nhất 2000 người mới cơ bản đáp ứng được nhu cầu thực tế. Song
mỗi năm con số được đào tạo mới chỉ dừng ở 1.213 người. Đó là chưa kể
đến việc số lao động cần thêm do sự thay đổi công nghệ và mức độ tăng
trưởng của ngành in hàng năm.
Số lượng đào tạo chưa thỏa mãn nhu cầu là vậy, đáng buồn hơn chất
lượng đào tạo cũng chưa bắt kịp với mức độ đổi mới về kỹ thuật, công
nghệ đang diễn ra với tốc độ chóng mặt như hiện nay. Thực tế, môi trường
đào tạo trong nước còn nặng về lý thuyết, thiếu cơ sở vật chất thiết
bị, phương tiện thực hành. Do đó sau khi ra trường các kỹ sư, công nhân
in tiếp cận với doanh nghiệp còn khó khăn. Rõ ràng, nếu hệ thống đào
tạo của ta không có những bước phát triển vượt bậc, không được tiếp sức
có hiệu quả của toàn ngành thì khoảng cách tụt hậu ngày càng xa. Các cơ
sở đào tạo in đang đứng trước một thực tế là thiếu đội ngũ cán bộ giảng
dạy một cách trầm trọng. Trước đây, hằng năm chúng ta có một số sinh
viên tốt nghiệp chuyên ngành in ở nước ngoài về nước. Đây là nguồn bổ
sung tốt cho đội ngũ giảng viên, nhưng hiện nay nguồn này không còn nữa.
Hiện nay, số sinh viên nước ta đi du học ngày càng đông nhưng không có
ai lựa chọn ngành in để học. Một số kỹ sư được đào tạo chuyên ngành in
đã nhiều năm làm việc ở cơ sở sản xuất vừa có lý thuyết lại có kinh
nghiệm thực tiễn sẽ là nguồn bổ sung quan trọng cho đội ngũ giáo viên.
Song họ lại không mặn mà với công việc giảng dạy vì mức lương của ngành
giáo dục trả rất thấp so với thu nhập tại cơ sở sản xuất. Các trường đào
tạo in đành trông chờ vào số giáo viên thỉnh giảng. Tuy nhiên, hình
thức này sẽ khiến trường bị động trong kế hoạch đào tạo, ảnh hưởng đến
chất lượng đào tạo. Để tự cứu mình và chủ động trong việc xây dựng một
đội ngũ giáo viên chất lượng, Ông Đỗ Quốc Thắng, hiệu trưởng trường Cao
đẳng Công nghiệp in cho biết, từ năm 2004 bằng quan hệ trực tiếp, trường
ông mỗi năm đã• gửi 3 - 4 học sinh học tại trường Đại học Matxcova bằng
kinh phí tự túc. Hiện có 10 em học tại đó và hy vọng vài năm tới đây sẽ
là nguồn bổ sung cho đội ngũ giáo viên của nhà trường. Khoa In và
truyền thông trường đại học Sư phạm Kỹ thuật TP HCM cũng rất vất vả để
phát triển nguồn nhân lực, trước đây Khoa có gởi 4 kỹ sư theo học cao
học kỹ thuật In tại CHLB Đức nhưng chỉ còn 2 em có nguyện vọng trở về
Việt Nam, để phát triển đội ngũ giảng viên hiện có, từ năm 2004 đến nay
Khoa đã tổ chức cho 22 lượt đi học tập và nâng cao trình độ chuyên ngành
in ở các nước phát triển cho 15 giảng viên, tuy nhiên đây chỉ là giải
pháp tạm thời nhằm cập nhật kiến thức cho đội ngũ giảng viên. Việc tìm
được người phù hợp để đảm nhận công tác giảng dạy ngành in vẫn luôn là
vấn đề lớn, trong 3 năm qua chỉ tiêu tuyển dụng thêm giảng viên của khoa
In và truyền thông là 6 người nhưng cũng chỉ tìm được 3 người (1 hoạ
sĩ, 1 kỹ sư chuyên ngành cơ điện tử và 1 kỹ sư chuyên về in cuộn)
Một thực tế nữa trong đào tạo nhân lực cho ngành in là chúng ta chưa
có một bộ giáo trình chuẩn và thống nhất. Phần lớn giáo trình, giáo án
của các môn chuyên ngành hiện nay do từng giáo viên tự viết và dạy. Số
giáo viên nhiều năm không được đi đào tạo thêm, không được tiếp thu kiến
thức mới chiếm đa số. Họ thường dựa vào sách vở, tài liệu kiến thức cũ
đã• học trước đây kết hợp với một số thông tin thu lượm để viết. Một số
giáo viên không đủ trình độ ngoại ngữ để đọc sách, đọc tài liệu nước
ngoài thì lại càng lúng túng khi biên soạn giáo án, giáo trình. Thêm
nữa, do quan niệm xã• hội nghề in chưa được đánh giá một cách khách quan
và đúng tầm nên chất lượng đầu vào của phần lớn người học là quá thấp.
Điều này ảnh hưởng đến khả năng tiếp thu của người học và chất lượng đào
tạo.
Việc quản lý đào tạo nhân lực ngành in vẫn mang tính tự phát và manh
mún. Phía đơn vị đào tạo in thì tuyển sinh theo khả năng đào tạo chứ
không theo nhu cầu của ngành. Khi chưa có một chiến lược đào tạo cụ thể
dựa trên cơ sở những số liệu thống kê chính xác về các yêu cầu nguồn
nhân lực cho ngành in, ắt dẫn đến hệ quả tất yếu là chương trình đào
tạo không thống nhất, đào tạo không bám sát với nhu cầu về nguồn nhân
lực.
Về phía doanh nghiệp in lâu nay vẫn coi công việc đào tạo là việc riêng
của các cơ sở đào tạo, chưa thực sự quan tâm tới mối liên kết giữa đào
tạo và sử dụng nguồn nhân lực. Rất hiếm các doanh nghiệp coi việc đầu
tư cho đào tạo là một nghĩa vụ xã• hội và cũng là chiến lược phát triển
nguồn nhân lực của doanh nghiệp mình. Không chỉ vậy các doanh nghiệp in
vẫn còn dành quá ít phần kinh phí cho việc đào tạo lại, đào tạo nâng cao
người lao động. Người công nhân sau khi tốt nghiệp gần như không được
đào tạo thêm, và họ phải tự học theo kiểu truyền nghề từ người có kinh
nghiệm đi trước. Việc tổ chức bồi dưỡng thi tay nghề nếu có cũng chỉ
mang tính hình thức chứ chưa cập nhật bổ sung những kiến thức và hỗ trợ
giải quyết những khó khăn phát sinh trong thực tế sản xuất của công
nhân.
Đi tìm giải pháp
Đứng trước xu thế hội nhập quốc tế của Việt Nam, các doanh nghiệp in
muốn có chỗ đứng vững trên thị trường và giữ vững khách hàng phải đổi
mới công nghệ, đầu tư máy móc thiết bị, hiện đại hóa quy trình sản xuất.
Song hành với đổi mới công nghệ thì việc đào tạo một đội ngũ kỹ sư,
công nhân lành nghề có đủ trình độ và kinh nghiệm vận hành, ứng dụng
hiệu quả các chức năng của thiết bị vào thực tế sản xuất là một yêu cầu
rất cấp bách của các doanh nghiệp hiện nay. Trước thực trạng của công
tác đào tạo nguồn nhân lực cho ngành in hiện nay, Ông NgôAnh Tuấn,
trưởng khoa in và truyền thông, ĐH Sư phạm kỹ thuật TP. HCM đưa ra một
loạt giải pháp trong đó có nhấn mạnh đến việc cần thống nhất chương
trình đào tạo và tổ chức đào tạo liên thông. Theo ông Tuấn, việc thống
nhất chương trình đào tạo ở các cấp cho phép tiết kiệm công sức biên
soạn và hiệu chỉnh tài liệu, tạo điều kiện cho các học viên tốt nghiệp
các hệ đào tạo bên dưới được chuyển tiếp lên bậc cao hơn. Bên cạnh đó,
các đơn vị đào tạo ngành in cùng phối hợp chia sẻ nguồn lực và cùng hợp
tác nghiên cứu khoa học. Thực tế cho thấy mỗi đơn vị đào tạo đều có chức
năng khác nhau, đối tượng người học cũng khác nhau. Tuy nhiên, nếu các
đơn vị ngồi lại với nhau để cùng phối hợp chia sẻ nguồn lực thì những
phần dư công suất máy hay trang thiết bị phục vụ thực tập- thí nghiệm
của các đơn vị này có thể cho các đơn vị khác sử dụng. Phía cơ quan nhà
nước quản lý ngành in cần tiến hành thống kê toàn diện về nguồn nhân lực
và năng lực thiết bị toàn ngành làm cơ sở xây dựng kế hoạch xây dựng và
phát triển.
Ông Nguyễn Kiểm, Cục trưởng Cục Xuất bản thì quan tâm đến mối liên kết
giữa 3 đối tượng: cơ sở đào tạo, doanh nghiệp và người học trong đó mối
liên kết giữa đào tạo và doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng. Theo ông,
phía doanh nghiệp hoàn toàn có thể cung cấp thông tin và đặt hàng về nhu
cầu đào tạo, bồi dưỡng để các cơ sở đào tạo có kế hoạch tổ chức thực
hiện. Hàng năm các doanh nghiệp có thể xem xét cấp học bổng cho một số
sinh viên có kết quả học tập xuất sắc; hỗ trợ tạo điều kiện cho sinh
viên, học viên các trường được thực tập, tìm hiểu thực tế tại doanh
nghiệp…
Theo printechco.com
Chia sẻ với bạn bè:
Tin mới hơn:
Tin cũ hơn: