
Cho đến nay, ở Việt Nam, cách tiếp cận theo chuỗi cung ứng vẫn chưa được áp dụng một cách có hệ thống trong quản lý kinh tế của nhà nước cũng như trong hoạch định chiến lược kinh doanh của tư nhân.
Trân
trọng giới thiệu với độc giả bài viết này. Mọi ý kiến tranh luận xin
gửi về vef@vietnamnet.vn hoặc phần thảo luận phía dưới. Độc giả cũng có
thể liên hệ trực tiếp với tác giả qua email trên. Xin cảm ơn. Cách tiếp cận chuỗi cung ứng một mặt giúp làm ăn hiệu quả hơn; mặt khác, giúp các doanh nghiệp
nhỏ, nhà nước yếu tìm ra chỗ đứng tối ưu cho mình để tồn tại trong thị
trường khu vực và toàn cầu. Cho đến nay, ở Việt Nam, cách tiếp cận
theo chuỗi cung ứng vẫn chưa được áp dụng một cách có hệ thống trong
quản lý kinh tế của nhà nước cũng như trong hoạch định chiến lược kinh
doanh của tư nhân. Bài
này quan tâm đến sự tan vỡ hiện nay của chuỗi cung ứng trong công
nghiệp sản xuất - chế biến Việt Nam - trái tim của công nghiệp hóa. Trước
đây, các ngành sản xuất - chế biến Việt Nam bị chặn ở đầu ra do không
bán, xuất khẩu được sản phẩm, chủ yếu do giá thành quá cao so với thị
trường, ví dụ trong công nghiệp ôtô, điện tử,..v..v.. Gần đây, các
ngành sản xuất - chế biến Việt Nam lại bị chặn thêm ở đầu vào vì mua
không được nguyên liệu trong nước, ví dụ chế biến thủy sản, rau hoa quả,
hạt tiêu,..v..v.
Không
mua được nguyên vật liệu cho sản xuất có nghĩa khâu sản xuất không có
mới liên kết với khâu nguyên vật liệu, tức là đã bị cắt đứt khỏi chuỗi
cung ứng. Có thể kể ra vài nguyên nhân tiêu biểu cho tình trạng này.
Trong chuỗi cung ứng của các thị trường lành mạnh, có một (hay một số)
công ty mạnh, chiếm ưu thế trong chuỗi cung ứng. Đây có thể là công ty
sản xuất hay thương mại. Các công ty này thường đưa ra cơ chế, quy
định, "luật chơi" cho cơ chế liên kết, thông tin, hoạt động trong chuỗi
cung ứng đó, ví dụ các hệ tiêu chuẩn kỹ thuật, các chuẩn về kế toán,
đánh giá, giao nhận (ví dụ các công ty phần mềm Mỹ hay dùng hệ chuẩn
CMM - Capability Maturity Model). Việc thống nhất cơ chế hoạt động giúp chuỗi cung ứng trở nên hiệu quả hơn. Việc
khâu sản xuất Việt bị "cắt đứt" khỏi nguồn nguyên liệu Việt chứng tỏ
mối liên kết giữa các bên tham gia là yếu. Công ty Trung Quốc thu mua
được nguyên liệu của nhà nông Việt chứng tỏ nhà nông Việt đã có liên
kết chặt chẽ hơn với khâu sản xuất trong chuỗi cung ứng Trung Quốc. Các
nguyên liệu Việt được chế biến, gia công ở công ty Trung Quốc và có
thể xuất khẩu mang nhãn Trung Quốc. Nói cách khác: nhà nông Việt đã dần
thành nhà cung cấp (supplier) trong chuỗi cung ứng Trung Quốc. Toàn
cầu hóa và sự thống trị của các chuỗi cung ứng mạnh sẽ phá vỡ, xé lẻ
các chuỗi cung ứng yếu. Đây là điều tất yếu. Ở đây, các chuỗi cung ứng
mạnh của Trung Quốc đang dần cắt đứt nguồn nguyên liệu khỏi khâu sản
xuất của các chuỗi cung ứng Việt. Họ thu hút vào chuỗi cung ứng của
mình các công đoạn rẻ nhất, hay mang tính cạnh tranh nhất. Họ thu mua
nguyên liệu nhiều hơn thuê khoán ta gia công chứng tỏ giá nguyên liệu
của ta "rẻ" hơn giá ta gia công sản xuất. Trong chiến lược quốc
gia hay doanh nghiệp, ta vẫn "chê" khâu gia công, làm thuê khoán ngoài,
mà muốn sản xuất toàn sản phẩm như trong công nghiệp ôtô, đóng tàu,
săt thép, điện tử, chip, công nghệ cao,..v..v. Nhìn khách quan, thực tế
với chút hiểu về kỹ thuật - kinh doanh sẽ thấy: nếu vẫn viển vông,
không hoạch định một cách nghiêm túc thì không bao lâu nữa, ngành sản
xuất của ta có muốn cũng sẽ không được các chuỗi cung ứng mạnh thuê làm
gia công nữa. Hay nói khác, lúc đó, vì sinh kế, ta sẽ phải nhận làm
các việc gia công rẻ mạt hơn, với giá trị gia tăng thấp hơn các việc ta
có thể làm ngày nay nếu hoạch định tốt. Một là,
cơ chế thị trường chưa phát huy tác dụng nên doanh nghiệp chưa thấy
lợi. Cơ chế thị trường yếu, lắm thủ tục nhũng nhiều, gây khó cũng làm
cho doanh nghiệp muốn mua cũng khó mua được. Đây có thể là nguyên nhân
cho (tưởng như) nghịch lý: ta bán than tiểu ngạch với thuế xuất thấp và
nhập khẩu than chính ngạch đắt và thuế nhập cao hơn nhiều hay bán sắn
tiểu ngạch nhưng lại nhập đến 70% thức ăn gia súc. Hai là,
nguyên nhân này mới là hệ trọng cho công nghiệp Việt, giá thành cho
gia công, sản xuất của chuỗi cung ứng Việt đã cao hơn của các chuỗi
cung ứng bên ngoài. Nói cách khác, năng suất lao động trong lĩnh vực
sản xuất hay của nền công nghiệp Việt thấp hơn nhiều so với chuỗi cung
ứng bên ngoài. Nguyên nhân quan trọng nhất (và đáng sợ nhất) cho năng
suất lao động thấp là công nghệ lạc hậu so với công nghệ của chuỗi cung
ứng bên ngoài. Vì sao lại đáng sợ hay là tử huyệt của nền công
nghiệp? Vì đầu tư nâng cấp cho công nghệ, cho tạo dựng cơ sở hạ tầng
công nghiệp là rất tốn kém và cần phải được hoạch định, thực hiện một
cách tập trung, kiên định, nhất quán trong 3-4 thập kỷ, chứ không thể
làm trong 5-10 năm hay chỉ có tiền, giàu tài nguyên là được. Đó là
trong bối cảnh của nửa cuối thế kỷ 20 khi các thị trường quốc gia còn
chưa mở, các quốc gia còn hầu như làm chủ thị trường nội địa và có thể
có các chính sách công nghiệp (industrial policy) khôn khéo loại bỏ cạnh tranh nước ngoài, bảo hộ công nghiệp của mình. Nhưng
nay, nền kinh tế đã mở, bảo hộ nội địa không thực hiện được nữa, nhà
nước có hỗ trợ nền công nghiệp ôtô nước nhà thì cũng "nuôi béo" trước
hết mấy hãng ôtô nước ngoài. Đấy là chưa nói về sự khó khăn, hạn hẹp để
nhận biết, chen chân vào được các ngách cơ hội rất hẹp (hay cơ hội cửa
sổ, window opportunities, ví dụ thời gian chuyển thế hệ công
nghệ, phát sinh các ngành hay công nghệ mới, khả năng bỏ qua giai đoạn,
tận dụng cơ hội địa - chính trị... ). Đây là điểm mấu chốt cho thấy
nền công nghiệp không thể thể đứng vững trong thị trường mở nếu không
dựa vào khoa học - công nghệ. Người
ta có nói đến vì sao các doanh nghiệp Việt không đặt giá cao hơn để
mua được nguyên liệu của nhà nông Việt. Đây là điều không thể làm được
vì các doanh nghiệp Trung Quốc chắc chắn sẽ chấp nhận mua giá cao hơn
ta. Vì sao họ làm được như vậy? Vì trong khâu sản xuất, với công nghệ
tốt hơn, năng suất lao động cao hơn, họ làm ra giá trị gia tăng cao hơn
ta trong cùng một đơn vị sản phẩm. Do đó, họ có thể dùng phần lợi
nhuận lớn hơn đó để tăng giá mua nguyên vật liệu. Giả dụ trong thị
trường giả định với nguồn cung nguyên liệu vô hạn, đây là đủ để họ
thắng. Nhưng đây lại một thị trường có giới hạn, họ mua thì ta không có
nguyên liệu, vì vậy, sau vài mùa thì rất nhiều khả năng loại bỏ luôn
được nền sản xuất Việt cạnh tranh với họ. Các cơ quan quản lý cũng
nói đến việc dùng các biện pháp để làm sao doanh nghiệp Việt mua được
nguyên liệu như về hành chính - quản lý, vận động, tác động tư tưởng,
phi thị trường, như cử người nắm xem Trung Quốc thu mua gì, bao nhiêu, ở
đâu, giá thế nào..v..v. Những biện pháp này không có tác dụng trong
nền kinh tế thị trường. Để ngăn ngừa sụp đổ (Crash), việc cần làm ngay là chuyển hoạt động của nền kinh tế sang "chế độ an toàn" (Safe Mode).
Điều này tương tự như máy tính đã được mặc định để khi bị lỗi quá
nặng, nó sẽ tự chuyển sang chế độ an toàn để duy trì hoạt động tối
thiểu và tránh bị tắt"phụt" hay phải đóng hoàn toàn. Chế độ an
toàn cho nền kinh tế Việt bây giờ là: chuyển từ nền kinh tế hướng tới
tăng trưởng sang nền kinh tế đủ dùng, tự tại (tự cung cấp đủ). Tức là
chuyển từ định hướng tăng trưởng nhưng đi kèm với nguy cơ đổ vỡ cao
sang sự duy trì bền vững và với tính khả thi cao. Đây là điều chắc chắn
ta đạt được, nếu muốn. Theo đó, tư nhân và đặc biệt là nhà nước,
không đầu tư lớn cho tăng trưởng (cho làm giàu) mà cho an sinh, bảo đảm
đời sống cho dân. Tránh những tư duy "ngành kinh tế mũi nhọn", sản
phẩm chủ lực,"rượt đuổi, bắt kịp","đi tắt, đón đầu", vv. Chạy theo tăng
trưởng ngày nay cũng tựa như tàu đi trên biển khơi đang đắm mà người
trên tàu thì lại lo quăng lưới, đánh cá. Việc trung hạn là: đánh
giá, định vị, nhìn nhận cơ hội và hoạch định một cách khách quan và
chuyên nghiệp để làm gia công, thuê khoán ngoài một cách có định hướng.
Định hướng ở đây là: đi vào các ngành ta có thế mạnh (có thể về kỹ
năng bẩm sinh, kỹ năng rèn luyện, điều kiện đặc thù về vị trí, địa lý,
thổ nhưỡng, nguyên liệu,..v..v.. ) hay các lĩnh vực để sau này tạo ra
các chùm, cụm (Clusters) về công nghệ hay khu vực địa lý có
tính năng tương tác với nhau. Định hướng cũng là việc dự kiến về phát
triển một số chuỗi cung ứng hay công đoạn nhất định của chuỗi cung ứng
phù hợp với điều kiện của ta. Ngoài ra, nhà nước làm đúng chức
năng, vai trò của mình trong nền kinh tế thị trường. Đúng chức năng gồm
lãnh nhận các trách nhiệm từ trước làm chưa tốt như quản lý kinh tế vĩ
mô, duy trì sự ổn định vĩ mô, hoạch định phát triển hạ tầng vật chất
và khoa học - công nghệ, định hướng cho ghép nhập các doanh nghiệp Việt
vào các chuỗi cung ứng khu vực và thế giới... Đúng chức năng
cũng là: không làm các việc không phải của mình, mình làm không hiệu
quả, tác động xấu tới thị trường, làm "méo" các giá trị (distort)
như không can thiệp hành chính, mệnh lệnh và phi thị trường vào nền
kinh tế, không điều hành sản xuất - kinh doanh (không "làm" kinh tế),..
v..v. Cái nhìn xa hơn là: chọn mô hình phát triển (với các cơ hội
cửa sổ mở đóng rất nhanh về thời gian, hẹp về không gian). Đó là chân
nhận, đoạn tuyệt với những quan niệm kinh tế giáo điều, không còn phù
hợp bối cảnh hiện tại. Đó cũng là tiếp cận nền kinh tế dựa trên tri
thức, nền kinh tế sáng tạo - đổi mới, nền kinh tế dịch vụ.

Thương nhân Trung Quốc sang Việt Nam mua hàng thủy sản (ảnh SGTT)
Theo vietnammarcom.edu.vn
Số Điện Thoại:
(08) 62631308
Email: info@cre-i.com.vn
| Sale 1: | |
| Sale 2: | |
| Quản trị: | |
| Sale 3: |
Tổng số thành viên: 50
Khách đang online: 3
Lượt truy cập: 14858